-
01.24.2011Hổn hợp Phosphorus hữu cơ & Vitamin B12
-
01.25.2011Nhà nông lo giữ ấm cho... cá
-
01.25.2011Bạc liêu: Thực trạng và giải pháp bảo vệ nguồn lợi thủy ...
-
01.26.2011Nông dân tố cáo sản xuất phân bón kém chất lượng
-
01.15.2011Vụ lúa Đông Xuân 2010: Hứa hẹn trúng mùa, được giá
-
02.08.2011Bảo vệ sản xuất vụ lúa đông xuân 2010 - 2011 ở ...
-
12.15.2010Vụ lúa Đông Xuân 2010-2011 ở đồng bằng sông Cửu Long: Đối ...
-
09.28.2010Quy định mới về việc sử dụng hóa đơn do doanh nghiệp ...
-
02.08.2011Tập đoàn Quốc tế Năm Sao : Đầu tư Nhà máy phân ...
-
10.25.2011ĐBSCL phải bám sát lịch thời vụ
-
09.28.2011Hàng loạt sai phạm tại Công ty phân bón Mỹ Việt
-
01.24.2011Hổn hợp Phosphorus hữu cơ & Vitamin B12
-
01.25.2011Nhà nông lo giữ ấm cho... cá
-
01.25.2011Bạc liêu: Thực trạng và giải pháp bảo vệ nguồn lợi thủy ...
-
01.26.2011Nông dân tố cáo sản xuất phân bón kém chất lượng
-
01.15.2011Vụ lúa Đông Xuân 2010: Hứa hẹn trúng mùa, được giá
-
02.08.2011Bảo vệ sản xuất vụ lúa đông xuân 2010 - 2011 ở ...
-
12.15.2010Vụ lúa Đông Xuân 2010-2011 ở đồng bằng sông Cửu Long: Đối ...
-
09.28.2010Quy định mới về việc sử dụng hóa đơn do doanh nghiệp ...
-
02.08.2011Tập đoàn Quốc tế Năm Sao : Đầu tư Nhà máy phân ...
-
10.25.2011ĐBSCL phải bám sát lịch thời vụ
-
09.28.2011Hàng loạt sai phạm tại Công ty phân bón Mỹ Việt
Tin trong nöôùc
Hổn hợp Phosphorus hữu cơ & Vitamin B12
Một bước đột phá rất mới trong nghiên cứu về các chất bổ dưỡng - cần thiết phải bổ sung trong khẩu phần vật nuôi đó là Hỗn hợp của Phosphos hữu cơ và vitamin B12 - với công dụng rất đa dạng và hiệu quả làm tăng cường tối ưu năng suất sinh sản cũng như năng suất thịt đem lại lợi nhuận vượt trội cho người chăn nuôi.
Tác dụng của hợp chất B.M.P.M
Tác dụng chính là thúc đẩy quá trình trao đổi chất và điều hoà hệ thống miễn dịch của cơ thể.
B.M.P.M thúc đẩy các quá trình trao đổi chất của cơ thể bằng cách cải thiện chức năng gan thông qua tác dụng làm giảm hoạt tính của enzym aspartate-aminotransferase (AST) khi chúng được nâng cao một cách bất thường trong huyết thanh của vật nuôi có chức năng gan bị suy giảm. Bên cạnh đó, việc cải thiện trao đổi chất toàn thân cũng được thực hiện thông qua đẩy mạnh quá trình chuyển hoá năng lượng bằng cách thúc đẩy chu trình ADP-ATP để tạo năng lượng sinh học cung cấp cho các hoạt động của tế bào.
Các tác động thúc đẩy trên của Hợp chất B.M.P.M cũng dẫn đến các hiệu quả khác về mặt dược lý học như: tái tạo hệ thống cơ bị thương tổn và suy yếu, giảm thiệt hại do stress nhiệt bằng cách làm hạ hàm lượng hydrocortisone và tiếp theo làm tăng hàm lượng insulin trong máu.
Từ các tác động như trên Hợp chất B.M.P.M cũng hoạt động rất hữu hiệu trong việc điều hoà hệ thống miễn dịch của cơ thể. Trong trường hợp bị stress nhiệt, độc tính của tế bào liên quan đến một số kháng thể gia tăng và việc sử dụng Hợp chất B.M.P.M có thể ngăn cản được khá hữu hiệu phản ứng bất lợi này của tế bào. Trong các trường hợp khác, Hợp chất B.M.P.M cũng tỏ ra rất hiệu quả trong việc đảm bảo cho quá trình hình thành các kháng thể không đặc hiệu.
Tác dụng của vitamin B12
- Trong tự nhiên vitamin B12 không hiện diện trong cây xanh mà chỉ duy nhất được các vi sinh vật tạo ra. Ở các động vật nhai lại tập đoàn vi sinh vật dạ cỏ có khả năng tổng hợp vitamin B12 và cung cấp cho cơ thể các động vật này. Tuy nhiên, các động vật dạ dày đơn như heo, chó, mèo, ngựa, gia cầm và các động vật nhai lại sơ sinh hoặc trong giai đoạn chưa ăn được thức ăn với hệ vi sinh vật dạ cỏ chưa phát triển đều cần được cung cấp một lượng vitamin B12 nhất định để thỏa mãn nhu cầu sinh trưởng của chúng.
- Không giống như các vitamin tan trong nước khác vitamin B12 được cơ thể động vật dự trữ một lượng rất nhỏ trong một thời gian ngắn nên cần phải bổ sung liên tục qua thức ăn hay các con đường khác.
- Trong đường tiêu hoá của vật nuôi vitamin B12 được ăn vào cùng với thức ăn sẽ liên kết với mucoprotein được sản sinh từ niêm mạc dạ dày để tạo thành một phức chất mucoprotein-cyanocobalamin rồi được hấp thu và dự trữ trong cơ thể.
Vitamin B12 đóng nhiều vai trò hữu dụng trong các phản ứng trao đổi chất của cơ thể. Sommer (1982) liệt kê như sau:
Thông qua sự liên kết với acid folic vitamin B12 thúc đẩy việc trao đổi các hợp chất đơn carbon.
Vitamin B12 hoạt động trong sự trao đổi dầu, mỡ và các chất bột đường thông qua việc tổng hợp và vận chuyển các nhóm methyl không bền.
Vitamin B12 đóng vai trò quan trọng trong việc tổng hợp methionine, một acid amin đóng vai trò là một chất cho nhóm methyl trong quá trình tổng hợp choline và creatinine cần thiết cho quá trình dự trữ năng lượng trong mô cơ.
Vitamin B12 hỗ trợ cho việc hình thành các hồng cầu trong quá trình tạo máu bình thường và rất quan trọng trong việc điều trị bệnh thiếu máu ở động vật.
Vitamin B12 thúc đẩy việc sử dụng và chuyển hoá thức ăn, đồng thời hỗ trợ tăng trưởng toàn thân thông qua việc gia tăng hàm lượng protein cơ thể.
Hiệu quả của việc phối hợp Hợp chất B.M.P.M và Vitamin B12
Việc phối hợp hai hợp chất sinh học Hợp chất B.M.P.M và Vitamin B12 trong chế phẩm Vimekat tạo một sự cộng hưởng dương trong tác dụng của hai thành phần.
Tác động thúc đẩy quá trình trao đổi chất toàn thân và điều hoà hệ thống miễn dịch của Hợp chất B.M.P.M sẽ được nâng cao hơn khi có sự hiện diện của vitamin B12 với các tác động bổ sung trong quá trình chuyển hoá năng lượng cũng như đảm bảo một cách bình thường cho việc tạo máu và điều hoà quá trình quá trình tuần hoàn.
Vai trò của vitamin B12 trong chuyển hoá năng lượng và tham gia vào quá trình tạo hồng cầu qua đó thúc đẩy chuyển hoá thức ăn và thúc đẩy sinh trưởng sẽ được nâng cao khi có sự hiện diện của Hợp chất B.M.P.M trong chu trình ADP-ATP, điều hoà chức năng gan và duy trì hoạt động hiệu quả của hệ thống miễn dịch trong cơ thể.
Vimekat - Chất dẫn xuất đặc biệt làm tăng sự đồng hóa protein tạo cho gia súc có cảm giác thèm ăn, ăn nhiều hơn nên mau lớn hơn.
Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 trong Vimekat được dung nạp tốt
Các thử nghiệm trên Hợp chất B.M.P.M đã được thực hiện để: xác định độc tính quá cấp - đã được thực hiện trên chuột và gà con; xác định độc tính á trường - diễn ra trên chuột cống, chó và gà con; xác định độc tính sinh sản trên bò cái cho thấy ngay cả việc sử dụng liều cao Hợp chất B.M.P.M cũng được dung nạp rất tốt. Kết quả an toàn cũng được xác định trên sự trao đổi các chất biến dưỡng của butylamine, acid hypophosphoric và aceton.
Khả năng dung nạp tổng quát của Hợp chất B.M.P.M cũng đã được chứng minh bằng những nghiên cứu trên sự dung nạp có mục đích được thực hiện bởi Sagner (1966) và những thử nghiệm trên sản xuất.
Riêng vitamin B12 đã được sử dụng trong điều trị với một giới hạn rộng về liều dùng và đến nay không có bất cứ vấn đề gì về độc tính của vitamin này.
Hướng dẫn sử dụng Vimekat cho những chỉ định khác nhau
Vimekat có có công dụng như là một loại thuốc bổ và một chất hỗ trợ trao đổi chất, được sử dụng rộng rãi ở nhiều loài khác nhau. Tuỳ mục đích sử dụng, Vimekat có thể được dùng riêng lẻ hay phối hợp với các giải pháp điều trị khác như sau:
Điều chỉnh các rối loạn dinh dưỡng do suy dinh dưỡng hay do việc nuôi dưỡng không đúng cách.
Điều chỉnh các rối loạn trong dinh dưỡng và phát triển ở thú non do nhiễm bệnh trong giai đoạn tăng trưởng.
Đề phòng hội chứng vô sinh hay các bệnh hậu sản ở thú sinh sản hay hỗ trợ trong quá trình điều trị các chứng vô sinh.
Điều trị đồng thời hay bổ sung để tạo tác động bổ trợ cho các liệu pháp calcium và magnesium trong qui trình điều trị chứng co giật (tetany) và bại liệt nhẹ (paresis), bệnh hậu sản so thiếu calcium và magnesium.
Sử dụng như là thuốc bổ trong các trường hợp quá sức do lao động hay kiệt sức do sinh sản hay bệnh lý.
HIỆU QUẢ TRÊN HEO
* Phòng bệnh cho heo nái sinh sản
Tiêm hoặc bổ sung cho heo nái trước khi sinh để cải thiện năng suất sinh sản ở nhiều khía cạnh khác nhau:
Sự trao đổi chất ở heo nái được ổn định hơn, từ đó làm cho năng suất heo nái ổn định hơn.
Giảm đáng kể những rối loạn hậu sản.
Giảm thiểu các vấn đề không mong muốn trong thời gian đẻ.
Heo nái động dục lại sau cai sữa ổn định và phối giống dễ đậu thai hơn.
Cải thiện hệ thống miễn dịch.
* Dung dịch Vimekat: Hợp chất B.M.P.M và Vitamin B12- hỗ trợ liệu pháp điều trị hội chứng MMA.
Tiêm một liều trước khi sinh làm giảm đáng kể sự xuất hiện hội chứng MMA ở heo nái sinh sản.
Cải thiện trao đổi chất từ đó phòng ngừa hội chứng MMA hiệu quả hơn
Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 có thể được sử dụng để ổn định thân nhiệt của heo nái.
* Giảm hiện tượng cắn đuôi ở heo thịt.
Hiện tượng cắn đuôi ở heo thịt có thể được cắt đứt sau 8 ngày sử dụng Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12.
Ngoài ra, nhờ vào các tác dụng của mình Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 đóng vai trò hỗ trợ quan trọng cho các liệu pháp điều trị và phòng ngừa nhiễm trùng, kháng viêm, giảm đau, tăng tính ngon miệng và thúc đẩy quá trình làm lành các vết thương.
HIỆU QUẢ TRÊN GIA CẦM.
Các nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả của Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 trong việc cải thiện năng suất và lợi nhuận của chăn nuôi gà đẻ thương phẩm, gà con và gà đẻ trứng giống.
Gà con
Sử dụng Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 thúc đẩy quá trình trao đổi chất, cải thiện sử dụng thức ăn, giúp gà tăng trưởng nhanh hơn và tăng sức đề kháng trong điều kiện stress nhiệt độ cao.
Gà đẻ
Bổ sung 0,5ml/con Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 liên tục trong 7 ngày cho gà đẻ đã làm cải thiện hiệu quả sức sống và làm giảm tỉ lệ chết ở gà ở 23 tuần tuổi từ 3% xuống còn 1,4%. Đồng thời cải thiện năng suất trứng ở gà đẻ thương phẩm nuôi nhốt bằng cách gia tăng tỉ lệ đẻ từ 78% lên 84% và làm tăng trọng lượng trung bình /trứng/ ngày à của gà mái đẻ.
Gà trống
Bổ sung 3ml/lít nước uống của gà trống tơ liên tục từ 0 đến 16 tuần tuổi, người ta thu được sự cải thiện đáng kể trên các chỉ tiêu về thể trọng, trọng lượng dịch hoàn và số lượng tinh trùng. Trọng lượng gà thí nghiệm đạt 862 g so với gà đối chứng là 717g. Trọng lượng hai dịch hoàn tăng từ 4,5 lên 7,9g. Số lượng tinh trùng ở cả hai dịch hoàn tăng từ 131 x 106 lên 329 x 106 tinh trùng.
Gà thịt
Bổ sung liên tục trong 5 ngày với liều 0,37ml/con pha trong nước uống ở gà thịt đã cải thiện trọng lượng gà thịt 8,62% và hệ số chuyển hoá thức ăn của gà 7,7%. Lợi nhuận tăng lên khoảng 119% sau khi trừ đi chi phí sử dụng Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 .
Ngoài ra, một số tác giả khác cũng nhận thấy sử dụng Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 cũng làm giảm một cách đáng kể hiện tượng mổ lông và mổ thịt nhau ở gà thịt, đồng thời rút ngắn thời gian thay lông ở gà hậu bị.
HIỆU QUẢ TRÊN BÒ
Thông qua tác động thúc đẩy các quá trình trao đổi chất và điều hoà hệ thống miễn dịch, sử dụng Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 cải thiện đáng kể các rối loạn sinh sản từ đó làm tăng năng suất sinh sản ở bò cái, hạ thấp tỉ lệ mắc bệnh và thiệt hại ở bò cái sinh sản và bê nghé.
Ở bò sữa thiệt hại chủ yếu gây ra do các rối loạn sinh sản, bệnh viêm vú và các bệnh dinh dưỡng. Các quá trình bệnh lý này liên quan đến các tác nhân gây stress, đặc biệt là stress nhiệt, với các biểu hiện như: đậu thai muộn ở bò cái tơ, xảo thai, có sữa muộn sau khi sinh và khó phối giống đậu thai lại sau khi đẻ. Các biểu hiện trên được Sommer (1985) gọi chung là Hội chứng Sinh sản.
Tác động của hội chứng này đe dọa toàn đàn sinh sản và ảnh hưởng liên đới đến sự phát triển trong tương lai của chúng. Việc phòng ngừa sự xuất hiện của Hội chứng Sinh sản góp phần quyết định sự thành công về mặt kinh tế và sự phát triển của cơ sở chăn nuôi bò sữa.
Cải thiện chức năng gan
Sự dao động của hàm lượng enzym aspartate-aminotransferase (AST) trong máu được xem như là một chỉ thị cho sự tổn thương của nhu mô gan, khi khả năng tổn thương cơ trơn và cơ vân được loại trừ. Flabðhoff (1974) đã liệt kê khá nhiều yếu tố được xem là nguyên nhân gây nên sự gia tăng hàm lượng AST trong máu bò cái liên quan đến Hội chứng Sinh sản như: bại liệt do hạ calcium máu, viêm nội mạc tử cung và sự ổn định của màng nhau.
Sử dụng Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 ở thú bệnh đã cải thiện chức năng gan của chúng, biểu hiện qua việc hạ thấp hàm lượng AST đến 24% so với đối chứng không sử dụng. Thông qua việc cải thiện chức năng gan, trao đổi chất tổng quát được cải thiện và tăng cường sức khoẻ toàn thân.
Phòng ngừa và làm giảm Hội chứng Sinh sản
Sử dụng Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 làm giảm các trường hợp rối loạn trao đổi chất và làm giảm Hội chứng Sinh sản ở bò sữa. Ambronn (1973) đã quan sát thấy sử dụng này làm hạn chế sự xuất hiện của các rối loạn trao đổi chất và giảm thấp các trường hợp vô sinh. Theo Sommer và ctv (1971) các trường hợp vô sinh ở nhóm đối chứng cao gấp đôi và số bò cái cần được điều trị các vấn đề liên quan đến tử cung cao gấp 4 lần so với nhóm có sử dụng Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12. Nghiên cứu của Wiedenroth (1979) cũng kết luận rằng khi bò bị đe doạ có Hội chứng Sinh sản thể hiện qua những bất thường về chức năng buồng trứng, co giật hậu sản và chứng aceton niệu thì việc sử dụng Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 đã làm giảm các rối loạn trao đổi chất và viêm vú từ 22% xuống còn 10%. Theo Palmer (1979) thì việc sử dụng hỗn hợp này đã làm giảm các rối loại hậu sản đến 90% so với đối chứng không sử dụng.
Các thí nghiệm ở Nam Phi được thực hiện bởi Sommer (1975) cho thấy sử dụng Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 đã làm giảm Hội chứng Sinh sản ở bò cái từ 63 đến 79% so với nhóm đối chứng không sử dụng. Ngoài ra, chế phẩm này cũng ngăn cản sự xuất hiện của chứng bại liệt hậu sản do hạ calcium máu và từ đó hạ thấp tỉ lệ bò cái liên quan đến hội chứng này nghiên cứu trên các bò cái có biểu hiện bất thường khi hàm lượng AST trong máu vượt 30 đơn vị/lít và hàm lượng cholesterol thấp hơn 2,6mMol/l cho thấy việc sử dụng Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 đã làm giảm 10% các trường hợp rối loạn nhau thai, 8% bại liệt do hạ calcium máu, 11% các trường hợp bệnh lý trong thời gian cho sữa và giảm 9,5% số bò cái bị loại để hạ thịt.
Dễ đậu thai và tăng nhịp đẻ
Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 có tác dụng tăng cường trao đổi chất, qua đó làm cho hệ thống sinh sản phát triển tốt hơn và làm cho bò cái dễ đậu thai hơn và rút ngắn được thời gian chờ phối. Từ đó làm tăng năng suất sinh sản và năng suất sữa trong đời của bò sữa.
Nghiên cứu sử dụng Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 trên bò cái trước khi phối giống của Flabðhoff (1974) đã làm tăng tỉ lệ đậu thai sau khi gieo tinh lần đầu 22% so với đối chứng không sử dụng. Kết quả thí nghiệm của Palmer (1979) cũng cho thấy việc bổ sung hỗn hợp này đã làm tăng tỉ lệ đậu thai và giảm số ngày chờ phối từ 179 ngày xuống còn 83 ngày. Các kết quả tương tự cũng được công bố bởi Schuh (1994).
Cải thiện tăng trưởng của bê, nghé
Bằng tác dụng thúc đẩy trao đổi chất, bảo vệ chức năng gan và điều hoà hệ thống miễn dịch Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 cũng có tác dụng cải thiện tăng trưởng đáng kể ở bê, nghé đặc biệt là khi được dùng chung với việc bổ sung selenium-vitamin-khoáng trong khẩu phần. El-Sherif và ctv (1981) đã chứng minh việc sử dụng như vậy đã nâng cao tăng trọng hàng ngày của trâu vỗ béo hơn 38% so với đối chứng không sử dụng. Ngoài ra, việc sử dụng chế phẩm này cũng có tác dụng điều hoà nhiều chỉ tiêu sinh lý máu khi có sự biến động bất thường vì các nguyên nhân trao đổi chất của các chỉ tiêu này như: hàm lượng các khoáng natri, kali, magnesium, chlor, bicarbonat, calcium và phosphorus, hàm lượng glycose, hàm lượng hemoglobin, cũng như hàm lượng các enzym như: LDH, AST và alkaline phosphatase.
Hiệu quả trong điều trị
Các kết quả nghiên cứu khác cũng cho thấy Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 làm tăng hiệu quả điều trị khi được bổ sung kèm với các thuốc đặc hiệu được dùng trong liệu trình như:
Làm tăng hiệu quả điều trị chứng hạ calcium máu bằng các chế phẩm calcium.
Làm tăng hiệu quả điều trị viêm gan.
Làm tăng hiệu quả điều trị triệu chứng lên giống yếu hay không lên giống bằng các chế phẩm hormon.
Làm tăng hiệu quả điều trị bệnh do Theileria.
Làm tăng hiệu quả tẩy giun sán ở Cừu.
Làm tăng hiệu quả điều trị các bệnh nhiễm khuẩn ở bò, bệnh còi xương ở bê, rối loạn tăng trưởng ở cừu, các bệnh nhiễm khuẩn đường ruột ở bê và bệnh viêm phổi-khí quản.
HIỆU QUẢ TRÊN CHÓ, MÈO
Tác dụng thúc đẩy trao đổi chất và điều hoà hệ thống miễn dịch của Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 cũng có nhiều tác dụng hữu hiệu trên chó và mèo. Trước tiên, chế phẩm này là sự chọn lựa hàng đầu để điều trị các rối loạn do trao đổi chất như suy nhược, chậm lớn và các vấn đề về sinh sản như chậm phát dục, chậm lên giống. Chế phẩm được sử dụng hiệu quả cho gia súc trong thời gian dưỡng bệnh hay hỗ trợ cho việc làm lành các vết thương ở mô cơ.
Theo Hopkins (1973), Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 thúc đẩy quá trình dị hoá glycogen ở các mô cơ nên được dùng hữu hiệu trong việc chống lại các thương tổn ở mô cơ và điều trị chứng biếng ăn ở chó mèo. Đồng thời, chế phẩm cũng được sử dụng điều trị hiệu quả chứng biếng ăn đi kèm triệu chứng rụng lông không do nguyên nhân sinh lý.
Hỗn hợp cũng được dùng như là một chế phẩm bổ trợ song hành để diều trị các chứng bệnh nhiễm khuẩn hay nhiễm virus ở chó, mèo.
KẾT LUẬN
Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 là một phối hợp hai hợp chất sinh học có tác dụng bổ sung nhau trong việc điều trị hoặc hiệu chỉnh các rối loạn liên quan đến trao đổi chất. Bên cạnh đó, cùng với tác dụng điều hoà hệ thống miễn dịch, chế phẩm được sử dụng rất hiệu quả trong việc phối hợp đồng thời với các chế phẩm đặc hiệu để gia tăng đáng kể hiệu quả điều trị nhiều loại bệnh ở khá nhiều loài động vật khác nhau. Ngoài ra, do khả năng dung nạp cao của cơ thể đối với hai hợp chất này nên chế phẩm có thể được sử dụng rộng rãi ở nhiều giai đoạn sinh lý khác nhau của động vật.
Tác dụng chính là thúc đẩy quá trình trao đổi chất và điều hoà hệ thống miễn dịch của cơ thể.
B.M.P.M thúc đẩy các quá trình trao đổi chất của cơ thể bằng cách cải thiện chức năng gan thông qua tác dụng làm giảm hoạt tính của enzym aspartate-aminotransferase (AST) khi chúng được nâng cao một cách bất thường trong huyết thanh của vật nuôi có chức năng gan bị suy giảm. Bên cạnh đó, việc cải thiện trao đổi chất toàn thân cũng được thực hiện thông qua đẩy mạnh quá trình chuyển hoá năng lượng bằng cách thúc đẩy chu trình ADP-ATP để tạo năng lượng sinh học cung cấp cho các hoạt động của tế bào.
Các tác động thúc đẩy trên của Hợp chất B.M.P.M cũng dẫn đến các hiệu quả khác về mặt dược lý học như: tái tạo hệ thống cơ bị thương tổn và suy yếu, giảm thiệt hại do stress nhiệt bằng cách làm hạ hàm lượng hydrocortisone và tiếp theo làm tăng hàm lượng insulin trong máu.
Từ các tác động như trên Hợp chất B.M.P.M cũng hoạt động rất hữu hiệu trong việc điều hoà hệ thống miễn dịch của cơ thể. Trong trường hợp bị stress nhiệt, độc tính của tế bào liên quan đến một số kháng thể gia tăng và việc sử dụng Hợp chất B.M.P.M có thể ngăn cản được khá hữu hiệu phản ứng bất lợi này của tế bào. Trong các trường hợp khác, Hợp chất B.M.P.M cũng tỏ ra rất hiệu quả trong việc đảm bảo cho quá trình hình thành các kháng thể không đặc hiệu.
Tác dụng của vitamin B12
- Trong tự nhiên vitamin B12 không hiện diện trong cây xanh mà chỉ duy nhất được các vi sinh vật tạo ra. Ở các động vật nhai lại tập đoàn vi sinh vật dạ cỏ có khả năng tổng hợp vitamin B12 và cung cấp cho cơ thể các động vật này. Tuy nhiên, các động vật dạ dày đơn như heo, chó, mèo, ngựa, gia cầm và các động vật nhai lại sơ sinh hoặc trong giai đoạn chưa ăn được thức ăn với hệ vi sinh vật dạ cỏ chưa phát triển đều cần được cung cấp một lượng vitamin B12 nhất định để thỏa mãn nhu cầu sinh trưởng của chúng.
- Không giống như các vitamin tan trong nước khác vitamin B12 được cơ thể động vật dự trữ một lượng rất nhỏ trong một thời gian ngắn nên cần phải bổ sung liên tục qua thức ăn hay các con đường khác.
- Trong đường tiêu hoá của vật nuôi vitamin B12 được ăn vào cùng với thức ăn sẽ liên kết với mucoprotein được sản sinh từ niêm mạc dạ dày để tạo thành một phức chất mucoprotein-cyanocobalamin rồi được hấp thu và dự trữ trong cơ thể.
Vitamin B12 đóng nhiều vai trò hữu dụng trong các phản ứng trao đổi chất của cơ thể. Sommer (1982) liệt kê như sau:
Thông qua sự liên kết với acid folic vitamin B12 thúc đẩy việc trao đổi các hợp chất đơn carbon.
Vitamin B12 hoạt động trong sự trao đổi dầu, mỡ và các chất bột đường thông qua việc tổng hợp và vận chuyển các nhóm methyl không bền.
Vitamin B12 đóng vai trò quan trọng trong việc tổng hợp methionine, một acid amin đóng vai trò là một chất cho nhóm methyl trong quá trình tổng hợp choline và creatinine cần thiết cho quá trình dự trữ năng lượng trong mô cơ.
Vitamin B12 hỗ trợ cho việc hình thành các hồng cầu trong quá trình tạo máu bình thường và rất quan trọng trong việc điều trị bệnh thiếu máu ở động vật.
Vitamin B12 thúc đẩy việc sử dụng và chuyển hoá thức ăn, đồng thời hỗ trợ tăng trưởng toàn thân thông qua việc gia tăng hàm lượng protein cơ thể.
Hiệu quả của việc phối hợp Hợp chất B.M.P.M và Vitamin B12
Việc phối hợp hai hợp chất sinh học Hợp chất B.M.P.M và Vitamin B12 trong chế phẩm Vimekat tạo một sự cộng hưởng dương trong tác dụng của hai thành phần.
Tác động thúc đẩy quá trình trao đổi chất toàn thân và điều hoà hệ thống miễn dịch của Hợp chất B.M.P.M sẽ được nâng cao hơn khi có sự hiện diện của vitamin B12 với các tác động bổ sung trong quá trình chuyển hoá năng lượng cũng như đảm bảo một cách bình thường cho việc tạo máu và điều hoà quá trình quá trình tuần hoàn.
Vai trò của vitamin B12 trong chuyển hoá năng lượng và tham gia vào quá trình tạo hồng cầu qua đó thúc đẩy chuyển hoá thức ăn và thúc đẩy sinh trưởng sẽ được nâng cao khi có sự hiện diện của Hợp chất B.M.P.M trong chu trình ADP-ATP, điều hoà chức năng gan và duy trì hoạt động hiệu quả của hệ thống miễn dịch trong cơ thể.
Vimekat - Chất dẫn xuất đặc biệt làm tăng sự đồng hóa protein tạo cho gia súc có cảm giác thèm ăn, ăn nhiều hơn nên mau lớn hơn.
Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 trong Vimekat được dung nạp tốt
Các thử nghiệm trên Hợp chất B.M.P.M đã được thực hiện để: xác định độc tính quá cấp - đã được thực hiện trên chuột và gà con; xác định độc tính á trường - diễn ra trên chuột cống, chó và gà con; xác định độc tính sinh sản trên bò cái cho thấy ngay cả việc sử dụng liều cao Hợp chất B.M.P.M cũng được dung nạp rất tốt. Kết quả an toàn cũng được xác định trên sự trao đổi các chất biến dưỡng của butylamine, acid hypophosphoric và aceton.
Khả năng dung nạp tổng quát của Hợp chất B.M.P.M cũng đã được chứng minh bằng những nghiên cứu trên sự dung nạp có mục đích được thực hiện bởi Sagner (1966) và những thử nghiệm trên sản xuất.
Riêng vitamin B12 đã được sử dụng trong điều trị với một giới hạn rộng về liều dùng và đến nay không có bất cứ vấn đề gì về độc tính của vitamin này.
Hướng dẫn sử dụng Vimekat cho những chỉ định khác nhau
Vimekat có có công dụng như là một loại thuốc bổ và một chất hỗ trợ trao đổi chất, được sử dụng rộng rãi ở nhiều loài khác nhau. Tuỳ mục đích sử dụng, Vimekat có thể được dùng riêng lẻ hay phối hợp với các giải pháp điều trị khác như sau:
Điều chỉnh các rối loạn dinh dưỡng do suy dinh dưỡng hay do việc nuôi dưỡng không đúng cách.
Điều chỉnh các rối loạn trong dinh dưỡng và phát triển ở thú non do nhiễm bệnh trong giai đoạn tăng trưởng.
Đề phòng hội chứng vô sinh hay các bệnh hậu sản ở thú sinh sản hay hỗ trợ trong quá trình điều trị các chứng vô sinh.
Điều trị đồng thời hay bổ sung để tạo tác động bổ trợ cho các liệu pháp calcium và magnesium trong qui trình điều trị chứng co giật (tetany) và bại liệt nhẹ (paresis), bệnh hậu sản so thiếu calcium và magnesium.
Sử dụng như là thuốc bổ trong các trường hợp quá sức do lao động hay kiệt sức do sinh sản hay bệnh lý.
HIỆU QUẢ TRÊN HEO
* Phòng bệnh cho heo nái sinh sản
Tiêm hoặc bổ sung cho heo nái trước khi sinh để cải thiện năng suất sinh sản ở nhiều khía cạnh khác nhau:
Sự trao đổi chất ở heo nái được ổn định hơn, từ đó làm cho năng suất heo nái ổn định hơn.
Giảm đáng kể những rối loạn hậu sản.
Giảm thiểu các vấn đề không mong muốn trong thời gian đẻ.
Heo nái động dục lại sau cai sữa ổn định và phối giống dễ đậu thai hơn.
Cải thiện hệ thống miễn dịch.
* Dung dịch Vimekat: Hợp chất B.M.P.M và Vitamin B12- hỗ trợ liệu pháp điều trị hội chứng MMA.
Tiêm một liều trước khi sinh làm giảm đáng kể sự xuất hiện hội chứng MMA ở heo nái sinh sản.
Cải thiện trao đổi chất từ đó phòng ngừa hội chứng MMA hiệu quả hơn
Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 có thể được sử dụng để ổn định thân nhiệt của heo nái.
* Giảm hiện tượng cắn đuôi ở heo thịt.
Hiện tượng cắn đuôi ở heo thịt có thể được cắt đứt sau 8 ngày sử dụng Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12.
Ngoài ra, nhờ vào các tác dụng của mình Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 đóng vai trò hỗ trợ quan trọng cho các liệu pháp điều trị và phòng ngừa nhiễm trùng, kháng viêm, giảm đau, tăng tính ngon miệng và thúc đẩy quá trình làm lành các vết thương.
HIỆU QUẢ TRÊN GIA CẦM.
Các nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả của Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 trong việc cải thiện năng suất và lợi nhuận của chăn nuôi gà đẻ thương phẩm, gà con và gà đẻ trứng giống.
Gà con
Sử dụng Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 thúc đẩy quá trình trao đổi chất, cải thiện sử dụng thức ăn, giúp gà tăng trưởng nhanh hơn và tăng sức đề kháng trong điều kiện stress nhiệt độ cao.
Gà đẻ
Bổ sung 0,5ml/con Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 liên tục trong 7 ngày cho gà đẻ đã làm cải thiện hiệu quả sức sống và làm giảm tỉ lệ chết ở gà ở 23 tuần tuổi từ 3% xuống còn 1,4%. Đồng thời cải thiện năng suất trứng ở gà đẻ thương phẩm nuôi nhốt bằng cách gia tăng tỉ lệ đẻ từ 78% lên 84% và làm tăng trọng lượng trung bình /trứng/ ngày à của gà mái đẻ.
Gà trống
Bổ sung 3ml/lít nước uống của gà trống tơ liên tục từ 0 đến 16 tuần tuổi, người ta thu được sự cải thiện đáng kể trên các chỉ tiêu về thể trọng, trọng lượng dịch hoàn và số lượng tinh trùng. Trọng lượng gà thí nghiệm đạt 862 g so với gà đối chứng là 717g. Trọng lượng hai dịch hoàn tăng từ 4,5 lên 7,9g. Số lượng tinh trùng ở cả hai dịch hoàn tăng từ 131 x 106 lên 329 x 106 tinh trùng.
Gà thịt
Bổ sung liên tục trong 5 ngày với liều 0,37ml/con pha trong nước uống ở gà thịt đã cải thiện trọng lượng gà thịt 8,62% và hệ số chuyển hoá thức ăn của gà 7,7%. Lợi nhuận tăng lên khoảng 119% sau khi trừ đi chi phí sử dụng Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 .
Ngoài ra, một số tác giả khác cũng nhận thấy sử dụng Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 cũng làm giảm một cách đáng kể hiện tượng mổ lông và mổ thịt nhau ở gà thịt, đồng thời rút ngắn thời gian thay lông ở gà hậu bị.
HIỆU QUẢ TRÊN BÒ
Thông qua tác động thúc đẩy các quá trình trao đổi chất và điều hoà hệ thống miễn dịch, sử dụng Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 cải thiện đáng kể các rối loạn sinh sản từ đó làm tăng năng suất sinh sản ở bò cái, hạ thấp tỉ lệ mắc bệnh và thiệt hại ở bò cái sinh sản và bê nghé.
Ở bò sữa thiệt hại chủ yếu gây ra do các rối loạn sinh sản, bệnh viêm vú và các bệnh dinh dưỡng. Các quá trình bệnh lý này liên quan đến các tác nhân gây stress, đặc biệt là stress nhiệt, với các biểu hiện như: đậu thai muộn ở bò cái tơ, xảo thai, có sữa muộn sau khi sinh và khó phối giống đậu thai lại sau khi đẻ. Các biểu hiện trên được Sommer (1985) gọi chung là Hội chứng Sinh sản.
Tác động của hội chứng này đe dọa toàn đàn sinh sản và ảnh hưởng liên đới đến sự phát triển trong tương lai của chúng. Việc phòng ngừa sự xuất hiện của Hội chứng Sinh sản góp phần quyết định sự thành công về mặt kinh tế và sự phát triển của cơ sở chăn nuôi bò sữa.
Cải thiện chức năng gan
Sự dao động của hàm lượng enzym aspartate-aminotransferase (AST) trong máu được xem như là một chỉ thị cho sự tổn thương của nhu mô gan, khi khả năng tổn thương cơ trơn và cơ vân được loại trừ. Flabðhoff (1974) đã liệt kê khá nhiều yếu tố được xem là nguyên nhân gây nên sự gia tăng hàm lượng AST trong máu bò cái liên quan đến Hội chứng Sinh sản như: bại liệt do hạ calcium máu, viêm nội mạc tử cung và sự ổn định của màng nhau.
Sử dụng Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 ở thú bệnh đã cải thiện chức năng gan của chúng, biểu hiện qua việc hạ thấp hàm lượng AST đến 24% so với đối chứng không sử dụng. Thông qua việc cải thiện chức năng gan, trao đổi chất tổng quát được cải thiện và tăng cường sức khoẻ toàn thân.
Phòng ngừa và làm giảm Hội chứng Sinh sản
Sử dụng Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 làm giảm các trường hợp rối loạn trao đổi chất và làm giảm Hội chứng Sinh sản ở bò sữa. Ambronn (1973) đã quan sát thấy sử dụng này làm hạn chế sự xuất hiện của các rối loạn trao đổi chất và giảm thấp các trường hợp vô sinh. Theo Sommer và ctv (1971) các trường hợp vô sinh ở nhóm đối chứng cao gấp đôi và số bò cái cần được điều trị các vấn đề liên quan đến tử cung cao gấp 4 lần so với nhóm có sử dụng Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12. Nghiên cứu của Wiedenroth (1979) cũng kết luận rằng khi bò bị đe doạ có Hội chứng Sinh sản thể hiện qua những bất thường về chức năng buồng trứng, co giật hậu sản và chứng aceton niệu thì việc sử dụng Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 đã làm giảm các rối loạn trao đổi chất và viêm vú từ 22% xuống còn 10%. Theo Palmer (1979) thì việc sử dụng hỗn hợp này đã làm giảm các rối loại hậu sản đến 90% so với đối chứng không sử dụng.
Các thí nghiệm ở Nam Phi được thực hiện bởi Sommer (1975) cho thấy sử dụng Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 đã làm giảm Hội chứng Sinh sản ở bò cái từ 63 đến 79% so với nhóm đối chứng không sử dụng. Ngoài ra, chế phẩm này cũng ngăn cản sự xuất hiện của chứng bại liệt hậu sản do hạ calcium máu và từ đó hạ thấp tỉ lệ bò cái liên quan đến hội chứng này nghiên cứu trên các bò cái có biểu hiện bất thường khi hàm lượng AST trong máu vượt 30 đơn vị/lít và hàm lượng cholesterol thấp hơn 2,6mMol/l cho thấy việc sử dụng Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 đã làm giảm 10% các trường hợp rối loạn nhau thai, 8% bại liệt do hạ calcium máu, 11% các trường hợp bệnh lý trong thời gian cho sữa và giảm 9,5% số bò cái bị loại để hạ thịt.
Dễ đậu thai và tăng nhịp đẻ
Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 có tác dụng tăng cường trao đổi chất, qua đó làm cho hệ thống sinh sản phát triển tốt hơn và làm cho bò cái dễ đậu thai hơn và rút ngắn được thời gian chờ phối. Từ đó làm tăng năng suất sinh sản và năng suất sữa trong đời của bò sữa.
Nghiên cứu sử dụng Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 trên bò cái trước khi phối giống của Flabðhoff (1974) đã làm tăng tỉ lệ đậu thai sau khi gieo tinh lần đầu 22% so với đối chứng không sử dụng. Kết quả thí nghiệm của Palmer (1979) cũng cho thấy việc bổ sung hỗn hợp này đã làm tăng tỉ lệ đậu thai và giảm số ngày chờ phối từ 179 ngày xuống còn 83 ngày. Các kết quả tương tự cũng được công bố bởi Schuh (1994).
Cải thiện tăng trưởng của bê, nghé
Bằng tác dụng thúc đẩy trao đổi chất, bảo vệ chức năng gan và điều hoà hệ thống miễn dịch Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 cũng có tác dụng cải thiện tăng trưởng đáng kể ở bê, nghé đặc biệt là khi được dùng chung với việc bổ sung selenium-vitamin-khoáng trong khẩu phần. El-Sherif và ctv (1981) đã chứng minh việc sử dụng như vậy đã nâng cao tăng trọng hàng ngày của trâu vỗ béo hơn 38% so với đối chứng không sử dụng. Ngoài ra, việc sử dụng chế phẩm này cũng có tác dụng điều hoà nhiều chỉ tiêu sinh lý máu khi có sự biến động bất thường vì các nguyên nhân trao đổi chất của các chỉ tiêu này như: hàm lượng các khoáng natri, kali, magnesium, chlor, bicarbonat, calcium và phosphorus, hàm lượng glycose, hàm lượng hemoglobin, cũng như hàm lượng các enzym như: LDH, AST và alkaline phosphatase.
Hiệu quả trong điều trị
Các kết quả nghiên cứu khác cũng cho thấy Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 làm tăng hiệu quả điều trị khi được bổ sung kèm với các thuốc đặc hiệu được dùng trong liệu trình như:
Làm tăng hiệu quả điều trị chứng hạ calcium máu bằng các chế phẩm calcium.
Làm tăng hiệu quả điều trị viêm gan.
Làm tăng hiệu quả điều trị triệu chứng lên giống yếu hay không lên giống bằng các chế phẩm hormon.
Làm tăng hiệu quả điều trị bệnh do Theileria.
Làm tăng hiệu quả tẩy giun sán ở Cừu.
Làm tăng hiệu quả điều trị các bệnh nhiễm khuẩn ở bò, bệnh còi xương ở bê, rối loạn tăng trưởng ở cừu, các bệnh nhiễm khuẩn đường ruột ở bê và bệnh viêm phổi-khí quản.
HIỆU QUẢ TRÊN CHÓ, MÈO
Tác dụng thúc đẩy trao đổi chất và điều hoà hệ thống miễn dịch của Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 cũng có nhiều tác dụng hữu hiệu trên chó và mèo. Trước tiên, chế phẩm này là sự chọn lựa hàng đầu để điều trị các rối loạn do trao đổi chất như suy nhược, chậm lớn và các vấn đề về sinh sản như chậm phát dục, chậm lên giống. Chế phẩm được sử dụng hiệu quả cho gia súc trong thời gian dưỡng bệnh hay hỗ trợ cho việc làm lành các vết thương ở mô cơ.
Theo Hopkins (1973), Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 thúc đẩy quá trình dị hoá glycogen ở các mô cơ nên được dùng hữu hiệu trong việc chống lại các thương tổn ở mô cơ và điều trị chứng biếng ăn ở chó mèo. Đồng thời, chế phẩm cũng được sử dụng điều trị hiệu quả chứng biếng ăn đi kèm triệu chứng rụng lông không do nguyên nhân sinh lý.
Hỗn hợp cũng được dùng như là một chế phẩm bổ trợ song hành để diều trị các chứng bệnh nhiễm khuẩn hay nhiễm virus ở chó, mèo.
KẾT LUẬN
Hỗn hợp B.M.P.M và Vitamin B12 là một phối hợp hai hợp chất sinh học có tác dụng bổ sung nhau trong việc điều trị hoặc hiệu chỉnh các rối loạn liên quan đến trao đổi chất. Bên cạnh đó, cùng với tác dụng điều hoà hệ thống miễn dịch, chế phẩm được sử dụng rất hiệu quả trong việc phối hợp đồng thời với các chế phẩm đặc hiệu để gia tăng đáng kể hiệu quả điều trị nhiều loại bệnh ở khá nhiều loài động vật khác nhau. Ngoài ra, do khả năng dung nạp cao của cơ thể đối với hai hợp chất này nên chế phẩm có thể được sử dụng rộng rãi ở nhiều giai đoạn sinh lý khác nhau của động vật.
Vụ lúa Đông Xuân 2010: Hứa hẹn trúng mùa, được ... (Đăng ngày: 15/01/2011)
Vụ lúa Đông Xuân 2010-2011 ở đồng bằng sông Cửu ... (Đăng ngày: 15/12/2010)
Quy định mới về việc sử dụng hóa đơn do ... (Đăng ngày: 28/09/2010)
Vụ lúa Đông Xuân 2010-2011 ở đồng bằng sông Cửu ... (Đăng ngày: 15/12/2010)
Quy định mới về việc sử dụng hóa đơn do ... (Đăng ngày: 28/09/2010)
HOÃ TRÔÏ TRÖÏC TUYEÁN







